Đà Nẵng: “Nhà giá 5 tỉ bán… 1 triệu đồng” ở quận Sơn Trà

(Báo Tuổi Trẻ) – Ngày 18-2, nguồn tin của Tuổi Trẻ cho biết liên quan đến vụ ‘Nhà giá 5 tỉ bán… 1 triệu đồng’ (Tuổi Trẻ, ngày 5-2-2021), Đoàn đại biểu Quốc hội TP Đà Nẵng đã chỉ ra nhiều b.ấ.t th.ư.ờ.ng của vụ việc.
Nhà giá 5 tỉ, bán chỉ… 1 triệu đồng

Theo Đoàn đại biểu Quốc hội TP Đà Nẵng, qua nghiên cứu nội dung đơn, hồ sơ vụ việc và x.ác minh thực tế nhận thấy: Tất cả các bên liên quan đều thừa nhận nguồn gốc nhà và đất tại 49 Lương Hữu Khánh là do ông Hoàng Anh Trinh gửi tiền về mua, xây dựng và nhờ vợ chồng ông Nguyễn Văn Minh đứng tên hộ.

Do thời điểm này ông Trinh là Việt kiều Mỹ nên không được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

“Việc vợ chồng ông Nguyễn Văn Minh chuyển nhượng nhà và đất tại số 49 Lương Hữu Khánh cho bà Ngô Thị Bảo Toàn với giá 1 triệu đồng là giao dịch không có thật, nhằm che đậy việc đứng tên hộ cho ông Hoàng Anh Trinh.

Ông Hoàng Anh Trinh nhiều năm lặn lội đi tìm công lý – Ảnh: HỮU KHÁ

Bởi lẽ thực tế với 361,3m2 đất và căn nhà hai tầng tại một quận trung tâm TP Đà Nẵng vào thời điểm năm 2013 thì không thể có giá 1 triệu đồng. Hơn nữa tại cam kết ngày 16-1-2013 của ông Trinh được bà Toàn ký xác nhận có nội dung:

“Nguyên trước đây tôi có nhờ ông Nguyễn Văn Minh đứng tên nhà đất 49 Lương Hữu Khánh, nay tôi đồng ý cho anh Minh chuyển nhượng cho vợ tôi là bà Ngô Thị Bảo Toàn với số tiền 1 triệu đồng để hợp thức hóa giấy tờ hợp đồng (số tiền này thực tế không có thực)’’ – ông Nguyễn Bá Sơn, phó trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội TP Đà Nẵng, cho biết.

Theo ông Sơn, việc bà Toàn chuyển nhượng nhà đất nêu trên cho bà Vũ Thị Huệ là trái với quy định của pháp luật bởi nhà đất nêu trên có tr.a.nh ch.ấ.p và đang được t.ò.a á.n thụ lý giải quyết.

Trong khi đó tại thời điểm chuyển nhượng, bà Toàn cam đoan tại thời điểm chuyển nhượng nhà và đất không có tr.a.nh ch.ấp là không trung thực. Bên cạnh đó, bà Vũ Thị Huệ biết rõ việc tr.a.nh ch.ấ.p giữa bà Toàn với ông Trinh nhưng vẫn mua nhà và đất.

Ngoài ra, thủ tục chuyển nhượng, sang tên nhà và đất nêu trên diễn ra rất nhanh chóng, chỉ trong vòng 3 ngày (từ ngày 21-5-2016 đến ngày 23-5-2016, trong đó ngày 21 và 22-5-2016 là ngày thứ bảy và chủ nhật). Việc bà Ngô Thị Bảo Toàn vội vàng chuyển nhượng nhà đất cho bà Huệ trong khi t.ò.a đang thụ lý giải quyết tr.a.nh ch.ấ.p là có dấu hiệu b.ất thư.ờng.

“Do hợp đồng chuyển nhượng nhà và đất giữa bà Toàn với bà Huệ không đúng quy định pháp luật nên hợp đồng thế chấp tài sản nêu trên giữa bà Huệ với Ngân hàng cổ phần thương mại Á Châu cũng vô hiệu theo quy định của pháp luật. Hơn nữa việc thiết lập hợp đồng thế chấp nêu trên cũng nhanh chóng một cách b.ất thư.ờng.

Ngày 23-5-2016 bà Huệ được Sở TN-MT TP Đà Nẵng chỉnh lý biến động nhà và đất sang tên thì sau đó một ngày, là ngày 24-5-2016, hợp đồng tín dụng đã được xác lập. Không hiểu Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu xác minh, định giá tài sản thế chấp như thế nào mà nhanh đến như vậy.

Chính vì thủ tục xác minh tài sản nhanh như vậy nên Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu không phát hiện nhà và đất là tài sản thế chấp đang có tr.a.nh ch.ấ.p” – ông Sơn cho biết.

Từ thực tế cho thấy, theo ông Sơn, việc ông Trinh yêu cầu t.ò.a án hủy các hợp đồng, giao dịch nêu trên là có cơ sở.

Việc TAND TP Đà Nẵng và TAND cấp cao tại Đà Nẵng x.é.t x.ử không chấp nhận yêu cầu của ông Trinh là chưa thỏa đáng, làm ảnh hưởng ng.hi.êm tr.ọ.ng đến quyền sở hữu của ông Trinh đối với nhà và đất số 49 Lương Hữu Khánh.

Câu chuyện cụ thể vụ việc hy hữu này như sau:

Bán nhà hay nhờ đứng tên?

Theo hồ sơ vụ án, năm 2008 ông Hoàng Anh Trinh (Việt kiều Mỹ) gửi tiền về nhờ vợ chồng ông Nguyễn Văn Minh (người bà con ở quận Sơn Trà) mua lô đất và làm nhà để sau này ông Trinh về Việt Nam định cư lâu dài. Nhà và đất nằm ở số 49 Lương Hữu Khánh, phường Thọ Quang, quận Sơn Trà.

Năm 2009, ông Trinh về Việt Nam sinh sống nên ông Minh đã giao lại nhà đất trên cho ông Trinh quản lý, sử dụng. Tháng 8-2012, ông Trinh quen và tổ chức đám cưới (không đăng ký kết hôn do thiếu một số giấy tờ) với bà Ngô Thị Bảo Toàn. Sau khi cưới, bà Toàn về ở cùng ông Trinh tại ngôi nhà nói trên.

Theo ông Trinh, thời điểm này do ông chưa có giấy chứng minh và hộ khẩu nên không thể đứng tên trên “sổ hồng”.

Trong thời gian chung sống, bà Toàn yêu cầu ông Trinh sang tên nhà đất từ vợ chồng ông Minh sang cho bà Toàn. Bà Toàn hứa khi nào ông Trinh có đủ giấy tờ hợp lệ, đủ điều kiện đứng tên nhà đất thì bà sẽ làm thủ tục chuyển quyền sở hữu lại cho ông.

Vì tin tưởng bà Toàn nên ngày 16-1-2013, ông Trinh yêu cầu ông Minh lập hợp đồng chuyển nhượng nhà và đất cho bà Toàn (với giá 1 triệu đồng). Theo lời ông Trinh, trên thực tế ông chỉ nhờ bà Toàn đứng tên trên sổ hồng, chứ không có việc chuyển nhượng nhà đất.

Sau đó, bà Toàn được Sở Tài nguyên và môi trường TP Đà Nẵng cấp sổ hồng. Một thời gian sau khi được cấp sổ hồng đứng tên mình, bà Toàn đem căn nhà này bán cho một người khác gần 5 tỉ đồng. Phát hiện sự việc, ông Trinh khởi kiện bà Toàn đề nghị tòa tuyên hủy sổ hồng, trả lại nhà cho ông.

Ông Trinh trình bày thực tế không có việc chuyển nhượng nhà đất từ vợ chồng ông Minh sang cho bà Ngô Thị Bảo Toàn với giá là 1 triệu đồng. Một căn nhà ba tầng, diện tích đất 361m2 có giá trị 5 tỉ đồng chỉ chuyển nhượng 1 triệu đồng là một giao dịch để hợp thức hóa nhằm che đậy việc đứng tên giùm.

Không có việc chuyển nhượng nhà đất cho bà Toàn với giá là 1 triệu đồng. Một căn nhà ba tầng, diện tích đất 361m2 có giá trị 5 tỉ đồng chỉ chuyển nhượng 1 triệu đồng là để hợp thức hóa nhằm che đậy việc đứng tên giùm.

Ông Trinh

Ông Hoàng Anh Trinh

Tuy nhiên, theo lời trình bày của bà Toàn, việc chuyển nhượng nêu trên giữa vợ chồng ông Minh với bà là để cấn trừ khoản tiền 20.000 USD và 600 triệu đồng mà ông Trinh nhận của bà.

Tại bản án sơ thẩm ngày 7-6-2018, TAND TP Đà Nẵng cho rằng “xuyên suốt quá trình chuyển giao quyền sở hữu nhà đất không có dấu hiệu hay căn cứ bà Toàn đã l.ừ.a dối ông Trinh để được nhận chuyển nhượng nhà đất. Ông Trinh khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng nhà đất, cho rằng bà Toàn l.ừ.a dối nhưng không chứng minh được việc bà Toàn l.ừ.a dối”.

Và tòa kết luận “như vậy về hình thức, nội dung và ý chí của các bên thì hợp đồng chuyển nhượng nhà đất giữa vợ chồng ông Minh với bà Toàn là hoàn toàn hợp pháp nên có hiệu lực”. Vì vậy, không chấp nhận yêu cầu đòi lại nhà của ông Trinh.

Viện kiểm sát: hợp đồng vô hiệu!

Sau khi TAND TP Đà Nẵng tuyên án, viện trưởng Viện KSND TP Đà Nẵng đã có kháng nghị. Theo viện trưởng Viện KSND TP Đà Nẵng, căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cùng lời trình bày của các đương sự thì có cơ sở xác định: nguồn gốc nhà đất số 49 Lương Hữu Khánh do ông Hoàng Anh Trinh gửi tiền nhờ ông Minh mua đất, làm nhà đứng tên giúp (do thời điểm này ông Trinh là Việt kiều định cư tại Mỹ nên không được sở hữu nhà ở tại Việt Nam).

Theo lời trình bày của ông Trinh thì do tin tưởng bà Toàn (bà Toàn nói để bà đứng tên, sau này đủ điều kiện bà sẽ chuyển tên lại cho ông) nên ông Trinh yêu cầu vợ chồng ông Minh chuyển nhượng nhà đất cho bà Toàn, hợp đồng có giá trị là 1 triệu đồng, nhưng thực tế không có việc chuyển nhượng giữa vợ chồng ông Minh với bà Toàn (không có việc giao nhận tiền, giao nhà).

Viện trưởng Viện KSND TP Đà Nẵng cho rằng lời trình bày trên của ông Trinh phù hợp với lời trình bày và thừa nhận của ông Minh, bà Toàn, phù hợp với thực tế về nguồn gốc nhà đất, về việc ông Trinh sinh sống tại nhà đất này từ năm 2009 đến nay.

Ngược lại, bà Toàn cho rằng việc chuyển nhượng nêu trên giữa vợ chồng ông Minh với bà để cấn trừ khoản tiền 20.000 USD và 600 triệu đồng mà ông Trinh nhận của bà, tuy nhiên bà Toàn không chứng minh được việc ông Trinh nhận khoản tiền này.

Vì vậy, theo Viện trưởng Viện KSND TP Đà Nẵng, có cơ sở xác định hợp đồng chuyển nhượng ngày 16-1-2013 giữa vợ chồng ông Minh với bà Toàn đối với nhà đất nói trên là giao dịch giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác.

Từ đó, Viện KSND TP Đà Nẵng xác định hợp đồng chuyển nhượng nhà đất của vợ chồng ông Minh với bà Toàn là vô hiệu. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên – môi trường Đà Nẵng cấp cho bà Toàn là có cơ sở.

“Việc nhận định và quyết định của TAND TP Đà Nẵng là không đúng bản chất sự việc, đánh giá chứng cứ không khách quan, toàn diện, làm ảnh hưởng ng.hi.êm t.r.ọ.ng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Trinh” – viện trưởng Viện KSND TP Đà Nẵng nêu quan điểm.

● Đầu năm 2008, từ Mỹ, ông Trinh gửi tiền về Việt Nam nhờ ông Minh (người bà con) đứng tên mua đất, xây nhà. Đầu năm 2009, ông Trinh về Việt Nam định cư và ở trong căn nhà này.

● Tháng 8-2012, ông Trinh cưới bà Toàn (do thiếu một số giấy tờ nên chưa làm được giấy kết hôn).

● Tháng 1-2013, ông Trinh đề nghị vợ chồng ông Minh làm hợp đồng chuyển nhà đất sang cho bà Toàn đứng tên.

● Sau đó, bà Toàn rời khỏi nhà ông Trinh và thời gian sau đưa người đến để bán nhà. Phát hiện sự việc, ông Trinh treo bảng “nhà đang tr.a.nh ch.ấp” trước cổng nên bà Toàn không bán được.

● Tháng 5-2016, bất ngờ bà Toàn đã lập hợp đồng bán căn nhà trên cho bà Vũ Thị H. và sau đó bà H. được Sở Tài nguyên – môi trường điều chỉnh biến động sang tên.

Nguồn: phóng viên Hữu Khá/ Báo Tuổi Trẻ

☀ Tin tức chính thống, nhanh và nóng ở Đà Nẵng và nhiều nơi khác được cập nhật tại Group: Đà Nẵng  (https://www.facebook.com/groups/csqt.info). Tham gia thành viên để thấy tin tức hằng ngày.

Các bạn tham gia làm thành viên nhóm để thấy được tin tức hằng ngày.